Di sản thừa kế phục vụ cho việc thờ cúng được sử dụng như thế nào?

Bà nội em mới mất cách đây một tháng. Trước khi mất bà em có để lại một bản di chúc đã được công bố trước mọi thành viên trong gia đình. Trong đó, bà em có để lại một phần di sản thừa kế của mình phục vụ cho việc thờ cúng. Bản thân em và nhiều người chưa hiểu lắm về di chúc có để lại di sản thừa kế phục vụ thờ cúng vì thiết nghĩ gia đình nào cũng sẽ có người có trách nhiệm thờ phụng. Gia đình em cũng có bác cả là con trai. Giải thích giúp em với ạ. Em xin cảm ơn!

     Chào em! NQH Việt Nam đã tiếp nhận  thắc mắc của em. Sau đây chúng tôi sẽ giải đáp thắc mắc của em.


Căn cứ pháp lý:


Di sản thừa kế phục vụ cho việc thờ cúng được sử dụng như thế nào?

     Hiểu một cách cơ bản thì thờ cúng là việc thực hiện một lễ nghi nhất định để tôn kính thần thánh, vật thiêng hoặc linh hồn người chết.

     Theo quy định tại Khoản 3 Điều 626 của Bộ luật Dân sự năm 2015 về Quyền của người lập di chúc:

“Người lập di chúc có quyền sau đây:

  1. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;…”

     Như vậy, người lập di chúc có quyền dành một phần tài sản trong khối di sản để thờ cúng. Di sản thờ cúng có ý nghĩa cả về mặt vật chất và cả về mặt tinh thần mà tục lệ còn gọi là “hương hỏa”. Không một ai bị buộc phải trích một phần di sản dành cho việc thờ cúng, nhưng một khi người lập di chúc đã thể hiện ý chí định đoạt phần di sản cho thờ cúng thì phải được pháp luật tôn trọng và bảo đảm thực hiện.

     Bên cạnh đó Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định rất rõ và chi tiết về việc dùng di sản thừa kế vào việc thờ cúng tại Điều 645 Di sản dùng vào việc thờ cúng, cụ thể:

Di sản thừa kế dành cho việc thờ cúng
 Di sản thừa kế dành cho việc thờ cúng

     “1. Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.

     Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng.

     Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.

  1. Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.”

     Di sản thờ cúng là một phần của di sản thừa kế sau khi thanh toán xong các khoản nợ liên quan đến di sản. Di sản thờ cúng nằm trong mối liên hệ với di sản thừa kế là một phần của khối di sản do người chết để lại nhưng phần di sản này không được áp dụng chia theo di chúc hay chia theo pháp luật như di sản thường. Di sản thờ cúng không được chia thừa kế và không thuộc về  người thừa kế nào. Di sản thừa kế chỉ mang ra thanh toán các nghĩa vụ về tài sản của người chết. Trong khi đó, tài sản để chia thừa kế theo di chúc được xác định sau khi đã thanh toán xong các nghĩa vụ tài sản và các chi phí liên quan đến di sản như tiền mai tang, tiền quản lý di sản. Nếu nghĩa vụ tài sản của người chết để lại lớn hơn toàn bộ nghĩa vụ của người chết để lại thì phần còn thiếu sẽ lấy từ di sản thờ cúng.

     Di sản thờ cúng có thể bị cắt giảm do sự có mặt của những  người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Vì những người này theo quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015, họ được đảm bảo hưởng kỷ phần 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật trong trường hợp toàn bộ di sản được chia theo pháp luật chứ không phải chia trên phần di sản còn lại sau khi đã trừ đi phần di sản dành cho thờ cúng.

     Di sản thờ cúng cũng có thể bị cắt giảm nếu người lập di chúc định đoạt toàn bộ di sản thừa kế dành cho thờ cúng. Vì người lập di chúc chỉ được quyền trích một phần di sản cho thờ cúng, “một phần” chứ không phải là tất cả. Cũng có quan điểm cho rằng một phần có nghĩa là bằng hoặc nhỏ hơn ½ theo đại lượng số học.

     Di sản thờ cúng là một phần được trích ra từ di sản thừa kế, nó lại là loại tài sản độc lập về quy chế pháp lý nhưng ảnh hưởng đến đời sống tâm linh cũng như quan niệm về lễ hiếu của người Việt Nam. Nếu bản thân còn bất kì vướng mắc, chưa rõ cần luật sư giải đáp, bạn vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn luật dân sự qua HOTLINE 19006184 của NQH Việt Nam để được hỗ trợ kịp thời.

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!


Bạn có thể tham khảo : 

 

 

Đặt Câu Hỏi Cho Luật Sư

  Subscribe  
Notify of
Call Now Button