ĐƠN PHƯƠNG LY HÔN VÀ GIÀNH QUYỀN NUÔI CON KHI LY HÔN

     Câu hỏi: Chào Luật sư, em có lấy người chồng Trung Quốc, làm giấy kết hôn tại Trung Quốc mà em có làm ghi chú kết hôn tại Việt Nam. Chồng em ở Việt Nam làm phụ ba chồng em làm ăn, còn em thì buôn bán hàng trên mạng. Hiện tại em và chồng em có đứa bé 07 tháng là con một thôi. Bé được em chăm và mẹ em chăm phụ, bé sinh tại Việt Nam và vô quốc tịch Việt Nam. Vợ chồng chung sống 01 năm cũng không hòa thuận, hay xảy ra nhiều mâu thuẫn cãi nhau. Có nhiều lần chồng đòi uy hiếp em sẽ giết em và giết gia đình em. Mới đây, hai em cãi nhau nữa, chồng em cầm dao nhí em, may em đóng cửa phòng kịp, vừa đóng cửa dao chồng em vừa chém vô cửa. Giờ em xin ly hôn đơn phương có được không ạ? Và em muốn giành được quyền nuôi con và yêu cầu chồng trợ cấp tiền. Vợ chồng em có tài sản chung và em có 01 căn nhà được mẹ tặng riêng, em buôn bán online cũng có thu nhập.

Đơn phương ly hôn và giành quyền nuôi con khi ly hôn


     Căn cứ pháp lý:


     

đơn phương ly hôn và giành quyền nuôi con
 Đơn phương ly hôn và giành quyền nuôi con

     Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về Tổng đài tư vấn pháp luật .Về vấn đề mà bạn gặp phải, chúng tôi xin tư vấn như sau:  

     Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định hai trường hợp ly hôn mà Tòa án xem xét giải quyết khi có căn cứ theo quy định. Đó là trường hợp thuận tình ly hôn và ly hôn theo yêu cầu của một bên (đơn phương ly hôn). Trong trường hợp này, nếu vợ chồng bạn không thỏa thuận được về việc ly hôn thì cần xem xét có căn cứ đơn phương ly hôn hay không. Cụ thể như sau:

1. Có căn cứ đơn phương ly hôn hay không?

     Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014

quy định về căn cứ đơn phương ly hôn:

      “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.

     Trong trường hợp của bạn, có xuất hiện hành vi bạo lực gia đình từ phía chồng của bạn. Bạn chia sẻ rằng, có nhiều lần chồng bạn uy hiếp bạn, dọa sẽ giết bạn và giết gia đình của bạn. Có lần, chồng bạn còn cầm dao nhí bạn và chém vào cửa khi bạn đóng cửa phòng lại. Có thể thấy, hành vi của chồng bạn là hành vi bạo lực gia đình và rất nguy hiểm. Trước tiên, nó ảnh hưởng tới quan hệ hôn nhân giữa bạn và chồng của bạn. Ở mức độ nghiêm trọng hơn, hành vi bạo lực gia đình có thể để lại hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe và tính mạng của bạn. Hành vi này có thể làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

      Do đó, có thể xác định hành vi bạo lực gia đình của chồng bạn là căn cứ để bạn thực hiện quyền yêu cầu đơn phương ly hôn. Và Tòa án sẽ xem xét căn cứ để giải quyết yêu cầu ly hôn của bạn.

2. Việc giành quyền nuôi con khi đơn phương ly hôn

     Khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của cha mẹ sau khi ly hôn như sau:

     “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”.

     Trường hợp của bạn, con mới 07 tháng tuổi (chưa đủ 36 tháng tuổi). Nên về nguyên tắc, bạn là người trực tiếp nuôi con sau khi hai bạn ly hôn. Mặt khác, bạn cũng có công việc, có thu nhập từ việc bán hàng online. Có thể xác định, bạn có đủ điều kiện để có thể trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và đảm bảo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của con.

đơn phương ly hôn và giành quyền nuôi con
                        Đơn phương ly hôn và giành quyền nuôi con

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT 24H : 19006184

3. Việc chia tài sản khi đơn phương ly hôn

     Khi vợ chồng ly hôn, về nguyên tắc, tài sản riêng của ai vẫn thuộc về người đó. Với tài sản được xác định là tài sản chung của hai vợ chồng, việc chia được tiến hành dựa trên sự thỏa thuận của vợ chồng. Trường hợp vợ chồng không thỏa thuận được về việc chia tài sản thì Tòa án giải quyết trên nguyên tắc chia đôi theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

     Theo đó, tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

  • Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
  • Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
  • Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
  • Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

     Với tài sản mà bạn nêu, có thể xác định, căn nhà mà bạn được mẹ tặng riêng là tài sản riêng của bạn nếu có hợp đồng tặng cho nhà xác định tặng cho riêng bạn được công chứng hoặc chứng thực theo quy định.

     Với tài sản xác định là tài sản chung thì việc chia theo nguyên tắc chia đôi có tính đến các yếu tố đã nêu ở trên. Tài sản chung đó được chia bằng hiện vật. Nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị. Bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch đó.

     Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi về câu hỏi của bạn. Mọi thắc mắc vui lòng liên hệ  Tổng đài tư vấn pháp luật 24h : 19006184 để được giải đáp. Trân trọng!


     Bài viết liên quan:

Đặt Câu Hỏi Cho Luật Sư

  Subscribe  
Notify of
Call Now Button