Có được chấm dứt hợp đồng lao động khi gia đình gặp khó khăn

      Hỏi: Tôi là N vào làm việc tại công ty H (tư nhân) theo hơp đồng lao động không xác định thời hạn từ năm 2005. Ngày 15/12/2014 tôi muốn xin nghỉ việc với công ty H với lý do công ty trả lương cho tôi quá thấp  không đảm bảo cho đời sống của bản thân và gia đình tôi. Vì vậy, tôi xin chấm dứt hợp đồng lao động để làm việc tại nơi khác. Công ty H cho rằng lý do nghỉ việc của tôi là không chính đáng. Vậy tôi  muốn hỏi tôi có thể  chấm dứt hợp đồng lao động  khi gia đình gặp khó khăn với công ty H được không. Và quyền lợi tôi được hưởng trong trường hợp này. Tôi xin cảm ơn!.

Có được chấm dứt hợp đồng lao động khi gia đình gặp khó khăn?


Cơ sở pháp lý

Bộ luật lao động 2012

Luật việc làm 2013.

Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật lao động.


chấm dứt hợp đồng lao động khi gia đình gặp khó khăn
chấm dứt hợp đồng lao động khi gia đình gặp khó khăn

      Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến cho Tổng đài tư vấn Về vấn đề chấm dứt hợp đồng lao động khi gia đình gặp khó khăn của anh và quyền lợi được hưởng, chúng tôi xin tư vấn cho anh như sau:

1.Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

-Căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động

Điều 37 Bộ luật lao động 2012 đã quy định các trường hợp người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Đó là các trường hợp sau đây:

“Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục”.

      Như vây,  căn cứ vào dữ liệu mà anh cung cấp thì anh muốn nghỉ việc tại công ty H  với lý do là công ty trả lương quá thấp không đảm bảo cho cuộc sống của bản thân và gia đình anh.  Xét trong tình hình thực tế hiện nay thì mong muốn nghỉ việc của anh trong trường hợp này hoàn toàn phù hợp bởi tiền lương là một nhu cầu thiết yếu của người lao động, lương cao hay thấp có thể quyết định quan trọng tới  cuộc sống của người lao động.Mặt khác theo quy định của pháp luật,  đây có thể là căn cứ để chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điểm d khoản 1 Điều 37 Bộ luật lao động 2012: “Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động”. Do đó, anh có thể chấm dứt hợp đồng lao động khi gia đình gặp khó khăn.

      Mà theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Nghị định 05/2015/NĐ-CP đã có những hướng dẫn cụ thể về trường hợp người lao động được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động gia đình gặp khó khăn:

” Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động tại Điểm d Khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Lao động trong các trường hợp sau đây:

a) Phải nghỉ việc để chăm sóc vợ hoặc chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố vợ, mẹ vợ hoặc bố chồng, mẹ chồng, con đẻ, con nuôi bị ốm đau, tai nạn

b) Khi ra nước ngoài sinh sống hoặc làm việc;

c) Gia đình gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh hoặc chuyển chỗ ở mà người lao động đã tìm mọi biện pháp nhưng không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động”.

      Do đó, nếu anh muốn xin chấm dứt hợp đồng lao động khi gia đình gặp khó khăn không thể tiếp tục thực hiện công việc thì anh phải chứng minh lý do nghỉ việc của mình phải thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Khoản 2 Điều 11 Nghị định 05/2015/NĐ-CP. Khi anh nêu ra được lý do nghỉ việc của mình thuộc các căn cứ trên thì anh có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao đồng lao động với công ty H.

-Thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động

       Vì hợp đồng lao động giữa anh và công ty H là hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Do đó, khi nghỉ việc anh phải báo trước cho công ty H ít nhất 45 ngày theo quy định tại khoản 3 Điều 37 Bộ luật lao động 2012:

“Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này”.

chấm dứt hợp đồng lao động khi gia đình gặp khó khăn
chấm dứt hợp đồng lao động khi gia đình gặp khó khăn

TỔNG ĐÀI TƯ VẤN PHÁP LUẬT 24H : 19006184

2.Giải quyết quyền lợi cho anh

-Trường hợp 1: Anh đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật ( tức là anh tuân thủ đầy đủ các quy định về căn cứ và thời hạn báo trước khi chấm dứt hợp đồng lao động với công ty H).

Quyền lợi anh được hưởng bao gồm:

+Được chi trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 Bộ luật lao động.

“1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương”.

      Trong trường hợp này, anh đủ điều kiện để được hưởng trợ cấp thôi việc vì (1) anh đã làm việc từ năm 2005 tại công ty H với hợp đồng lao động không xác định thời hạn, tức là anh đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên cho người sử dụng lao động; (2) căn cứ chấm dứt hợp động lao động của anh thuộc khoản 9 Điều 36 Bộ luật lao động, đây là trường hợp mà theo quy định tại điều 48 nên sẽ được hưởng trợ cấp thôi việc.

      Mức chi trả trợ cấp thôi việc= tổng thời gian làm việc thực tế tại công ty × tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp × 1/2

     Trong đó:

– Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc( quy định tại khoản 2 Điều 48 Bộ luật lao động 2012).  Mà “Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;…..”(quy định tại khoản 3 Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP).

– Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc(khoản 3 Điều 48 Bộ luật lao động 2012).

+Được chi trả trợ cấp thất nghiệp

  • Điều kiện hưởng

      Theo quy định tại Điều 43 Luật việc làm 2013, anh là đối tượng bắt buộc để tham gia bảo hiểm thất nghiệp:

“Điều 43. Đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp

1.Người lao động phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp khi làm việc theo hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc như sau:

a) Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn;

b) Hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc xác định thời hạn;….”

       Khi anh đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp thì anh có khả năng sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu đáp ứng các điều kiện được quy định tại Điều 49 Luật viêc làm 2013, cụ thể:

“Điều 49. Điều kiện hưởng

Người lao động quy định tại khoản 1 Điều 43 của Luật này đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau đây:

1.Chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp sau đây:

a) Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật;

b) Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;

2. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 43 của Luật này; đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 43 của Luật này;

3.Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm theo quy định tại khoản 1 Điều 46 của Luật này;

4.Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp sau đây:

a) Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an;

b) Đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên;…..”

      Đối chiếu với các quy định trên thì anh muốn được hưởng trợ cấp thất nghiệp phải đáp ứng các điều kiện sau:

-Việc  đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động giữa anh với công ty H là đúng pháp luật, anh không thuộc trường hợp được hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức hàng tháng.

-Anh đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động.

-Anh đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động.

  • Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp

      Được quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật việc làm 2013” Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc”.

      Do anh được nhận tiền lương từ người sử dụng lao động (công ty H là một công ty tư nhân) nên mức trợ cấp thất nghiệp của anh được hưởng là không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng (mức lương tối thiểu vùng được điều chỉnh bởi Nghị định 141/2017/NĐ-CP).

  • Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp:Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng tối đa không quá 12 tháng(quy định tại khoản 2 Điều 50 Luật việc làm 2013).

+Một số quyền lợi khác: Ngoài ra khi anh chấm dứt hợp đồng lao động với công ty H đúng pháp luật thì công ty phải có các nghĩa vụ khác đối với anh theo quy định tại Điều 47 Bộ luật lao động 2012 như: thanh toán đầy đủ các khoản liên quan tới quyền lợi của anh như: tiền lương, tiền làm thêm giờ, tiền thưởng,..; .hoàn thành  thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội cũng như các giấy tờ khác cho anh.

-Trường hợp 2: Anh đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật ( vi phạm căn cứ chấm dứt hoặc thời hạn báo trước cho công ty H).

+Do việc anh đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là trái pháp luật nên anh sẽ không được hưởng các quyền lợi như đã nêu ở trên.

+Ngoài ra, anh còn phải thực hiện các nghĩa vụ đối với công ty H theo quy định tại Điều 43 Bộ luật lao động:

“Điều 43. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này”.

      Trên đây là toàn bộ câu trả lời của chúng tôi đối với câu hỏi có thể chấm dứt hợp đồng lao động khi gia đình gặp khó khăn và quyền lợi được hưởng của anh. Mọi thắc mắc xin vui lòng liên hệ  Tổng đài tư vấn pháp luật 24h : 19006184 để được giải đáp.


Bài viết liên quan:

Công ty chấm dứt hợp đồng vì lý do thay đổi cơ cấu công nghệ 

Ký hợp đồng lao động 2 lần theo nguyện vọng của người lao động

Tiền trượt giá khi đánh bảo hiểm xã hội 1 lần

Rate this post

Đặt Câu Hỏi Cho Luật Sư

  Subscribe  
Notify of